NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC TRONG VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
HỘI THẢO
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VỚI SỨ MỆNH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
CHỦ ĐỀ: NGÔN NGỮ HỌC VỚI SỨ MỆNH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC TRONG VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
1. Đặt vấn đề
Ngôn ngữ học là một lĩnh vực nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn, gắn bó mật thiết với con người và xã hội. Chúng ta có thể thấy, ngôn ngữ có chức năng là công cụ giao tiếp và tư duy. Ngôn ngữ giúp con người hiểu nhau, từ đó mới có thể mong xây dựng được khối đại đoàn kết. Để làm chủ, người dân cần có quyền nói lên tiếng nói của mình, muốn vậy, họ cũng phải có khả năng sử dụng thông thạo tiếng mẹ đẻ hoặc ngôn ngữ quốc gia. Để có thể phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần thì không thể không có khả năng ngôn ngữ tốt để mở rộng giao lưu, học hỏi,... nhằm phát triển bản thân,...
Để thực hiện những điều đó, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân đều có những khả năng thụ hưởng và thực hiện mọi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Trong bài viết này, sau khi tìm hiểu nội dung của nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng tôi tìm hiểu những quan điểm chủ yếu trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước và những đóng góp cơ bản của ngành ngôn ngữ học trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và nhà nước. Những đóng góp đó là minh chứng thể hiện vai trò của ngành Ngôn ngữ học trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
2. Một số vấn đề chung
2.1. Nền tảng tư tưởng của Đảng là gì?
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định cụ thể tại Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam 2011 như sau:
"Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân."
Trong đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết về chủ nghĩa cộng sản, được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở thực tiễn chủ nghĩa tư bản đã và đang chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới đang phát triển mạnh và giành được một số thắng lợi: Công xã Paris, Cách mạng Tháng Mười Nga, sự ra đời Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết,... Học thuyết đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhưng cơ bản nhất là về triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Những tư tưởng này là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh gồm những điểm sau:
- Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giai cấp và con người
- Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
- Sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc
- Quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
- Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
- Đạo đức cách mạng: đề cao các giá trị đạo đức như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho tương lai.
- Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh: cán bộ và đảng viên là những người lãnh đạo đồng thời là những người đầy tớ trung thành của nhân dân.
Những nội dung trên là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam và là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc những tư tưởng, đường lối này. Do đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng là một công việc cần được thực hiện liên tục, thường xuyên, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Trong những nội dung trên, có một số nội dung liên quan đến đông đảo nhân dân và cũng là những vấn đề gắn với chính sách ngôn ngữ và nhiệm vụ nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học như "Tư tưởng về giải phóng dân tộc, giai cấp và con người", "Sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc", "Quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân" và "Phát triển kinh tế và văn hóa để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân liên quan đến lĩnh vực văn hóa",...
Việt Nam là một nước đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Do đó, tình hình sử dụng ngôn ngữ có nhiều nét đặc thù và phức tạp. Từ những nền tảng trên, ngay từ khi mới thành lập, Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chính sách nhằm cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ của các dân tộc chung sống trên lãnh thổ.
2.2. Quan điểm chủ yếu trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước
2.2.1. Quan điểm trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước giai đoạn 1945-1995
Trong nghiên cứu của mình, các nhà ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành (1995) đã tổng hợp được rằng, trong giai đoạn 1945-1995, chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước tập trung vào một số vấn đề sau:
1) Thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lí quyền mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng của mình, quyền bình đẳng và tự do phát triển của tất cả ngôn ngữ của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam.
2) Tiếng Việt (tiếng phổ thông) là ngôn ngữ chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng và chữ phổ thông.
3) Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước, được Nhà nước tôn trọng,
duy trì và giúp đỡ phát triển.
2.2.2. Quan điểm trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước giai đoạn 1995-2015
Về ngôn ngữ nói chung, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), năm 1998 Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có nêu: “… Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc. Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình…”.
Về tiếng Việt, vị thế của tiếng Việt đã được khẳng định rõ trong luật và hiến pháp. Cụ thẻ, Luật Giáo dục tiểu học, 1998 quy định: “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường”; Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (sửa đổi 2013, mục 3, điều 5 nêu rõ: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt”.
Về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009, tại khoản 2, Điều 7 khẳng định: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của Chính phủ”. Ngoài ra, một số nghị định, chỉ thị quy định những vấn đề cụ thể hơn như:
1) Nghị định số 72/NĐ-CP, ngày 06/8/2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Tư viện, Điều 14, mục 6 có ghi rõ: “Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng dân tộc thiểu số, tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng này”.
2) Chỉ thị số 38/CT-TTg, ngày 09/11/2004 của Tủ tướng Chính phủ Về việc đẩy
mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi”.
3) Nghị định số 82/2010/NĐ-CP, ngày 15/7/2010 của Chính phủ Về việc quy định dạy và học tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.
4) Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 của Chính phủ Về Công tác dân tộc, nhấn mạnh: “Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ
viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng
nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật”.
2.2.3. Quan điểm trong chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước giai đoạn 2015 -2025
Về tiếng Việt, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (ban hành ngày 22 tháng 6 năm 2015 do chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng kí) và Luật sửa đổi bổ sung 2020 đề cập về Ngôn ngữ, kĩ thuật văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu”. Liên quan đến việc phổ biến văn bản pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 nêu rõ: “Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài; bản dịch có giá trị tham khảo”. (Điều 9).
Về ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Luật Giáo dục năm 2019 (Khoản 2, Điều 11) quy định như sau: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình theo quy định của Chính phủ”. Điều 32 quy định: Nội dung trong Sách giáo khoa giáo dục phổ thông cần đảm bảo “không mang định kiến dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, giới, lứa tuổi và địa vị xã hội”.
Cụ thể và gần đây nhất là năm học 2022 - 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ sau: Dạy học các tiếng: Ba Na, Chăm, Ê-đê, Khmer, Gia Rai, M’nông, Mông, Thái theo chương trình và sách giáo khoa mới đối với lớp 1, lớp 2. Các tiếng Khmer, Chăm, Ê-đê, Mông, Ba Na, Gia Rai triển khai dạy học từ lớp 3 đến lớp 9 theo các chương trình và sách giáo khoa hiện hành. Ngoài ra, Quyết định 1558/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam” do Tủ tướng Vũ Đức Đam kí ngày 05 tháng 8 năm 2016. Quyết định nêu rõ nhiệm vụ của Đề án là: “Khảo sát, điều tra, nghiên cứu, sưu tầm, xây dựng hệ thống tư liệu, sáng tạo, xuất bản, phát hành và quảng bá các công trình văn học nghệ thuật về các dân tộc thiểu số Việt Nam dưới dạng sách in, sách điện tử (Ebook), sách 3D, các phim tài liệu, phim chuyên đề và hệ thống thư viện số”. Mục tiêu của Đề án cần hướng tới là:
1) Giới thiệu, quảng bá chính sách dân tộc, di sản văn hóa các dân tộc thiểu số
Việt Nam;
2) Góp phần củng cố và phát huy nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc và khối đại đoàn kết dân tộc;
3) Xây dựng, bổ sung và số hóa kho tư liệu về văn hóa, văn học, nghệ thuật của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam,...
2.3. Nhận xét
Có thể thấy, nội dung trong các luật, chính sách và chỉ thị trong các giai đoạn trên xuyên suốt và thống nhất ở một số điểm sau:
- Đối với tiếng Việt, ở giai đoạn ban đầu, Đảng chủ trương truyền bá chữ Quốc ngữ. Ngay từ rất sớm, trong Đề cương văn hóa 1943, Đảng đã nghĩ đến việc cần phải biên soạn từ điển, xây dựng “mẹo văn ta”, tức là soạn sách ngữ pháp tiếng Việt và “dân chủ hóa văn phong”, tức là làm cho cách nói, cách viết tiếng Việt trở nên thông dụng cho tất cả mọi người. Sau đó, phong trào “diệt giặc dốt” năm 1945, chính là phong trào dạy tiếng Việt cho tất cả mọi người. Ý nghĩa của phong trào này không chỉ giới hạn ở việc làm cho người dân biết chữ mà qua việc biết chữ, góp phần truyền bá những tư tưởng tiến bộ, tư tưởng cách mạng. Tiếng Việt được sử dụng trong nhà trường thay thế cho tiếng Pháp và trở thành ngôn ngữ chính thức để truyền thông trong hoạt động của bộ máy chính trị từ trung ương đến địa phương, dần dần xác lập vị trí là tiếng phổ thông rồi chính thức trở thành “ngôn ngữ quốc gia” (Hiến pháp 2013). Cùng với việc xác lập vị thế của tiếng Việt, từ những năm 1960 đến nay, phong trào Giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa tiếng Việt luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, góp phần làm cho tiếng Việt trở nên phong phú, hiện đại, giàu sức biểu đạt.
Đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, chính sách ngôn ngữ của Đảng luôn dành nhiều mối quan tâm. Chủ trương chủ yếu trong lĩnh vực này là: bảo tồn các bộ chữ viết cổ truyền, sửa đổi hoặc làm chữ viết mới cho các dân tộc thiểu số có nhu cầu và nguyện vọng; xây dựng trạng thái song ngữ Việt - Dân tộc, Dân tộc - Việt ở vùng các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam. Những chính sách này ngày càng được cụ thể hóa thông qua các chương trình, đề tài,... Từ những quan điểm chung chung thuở ban đầu, các chính sách dần tiến tới những công việc cụ thể hơn như quy định về việc học tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, biên soạn các sách giáo khoa để dạy tiếng dân tộc thiểu số trong nhà trường ở cấp phổ thông,...
Trên cơ sở đường hướng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, ngành Ngôn ngữ học ra đời và từng bước phát triển. Ngành đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực hiện các chủ trương chính sách, đồng thời thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chính những sản phẩm mà các nhà nghiên cứu tạo ra.
3. Những đóng góp cơ bản của ngành ngôn ngữ học trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và nhà nước
3.1. Sơ lược một số cơ sở giáo dục và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam
Sau khi nước Việt Nam dân chủ ra đời, ngành ngôn ngữ học được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên sớm có các cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Ở Việt Nam, có thể kể đến hai trung tâm giáo dục và nghiên cứu lớn là Viện Ngôn ngữ học và Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học.
Viện Ngôn ngữ học ở Việt Nam là một viện nghiên cứu khoa học chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Viện có tiền thân là Tổ Ngôn ngữ học thuộc Viện Văn học, một viện có lịch sử hình thành vào năm 1953, với tên gọi Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lí, Văn học và chính thức thành lập năm vào năm 1960. Năm 1968, Tổ Ngôn ngữ học tách ra thành Viện Ngôn ngữ học, có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý luận và ứng dụng ngôn ngữ của tiếng Việt, của các ngôn ngữ dân tộc ít người và các ngoại ngữ ở Việt Nam.
Ngành Ngôn ngữ học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội được dạy với tư cách là một bộ môn của Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào năm 1956. Từ năm 1996, bộ môn tách ra thành lập Khoa Ngôn ngữ học. Năm 2025, Khoa Ngôn ngữ học sáp nhập với khoa Việt Nam học và tiếng Việt thành Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học.
Ngoài ra, ngôn ngữ học còn được giảng dạy và nghiên cứu ở một số cơ sở khác nữa như các trường đại học có giảng dạy môn Ngữ văn học, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh,...
Đóng góp của ngành ngôn ngữ học chính là những công trình nghiên cứu của các cơ sở nghiên cứu và giảng dạy này. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chủ yếu dựa vào những công trình nghiên cứu của hai cơ sở Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Nhìn chung, có thể thấy, những đóng góp cơ bản của ngành ngôn ngữ học đối với sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tập trung vào ba vấn đề sau: (1) Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; (2) Cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước; (3) Phục vụ sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục của đất nước. Trong phần dưới đây, chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề này một cách cụ thể, chi tiết hơn.
3.2. Những đóng góp của ngành ngôn ngữ học
3.2.1. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Vấn đề Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra vào năm 1966 và được nêu lại vào năm 1979. Vấn đề này có một số nội dung cụ thể như chuẩn hóa tiếng Việt, bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa tiếng Việt, quy hoạch tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia,v.v…
Trong bài viết của mình, Giáo sư Trần Trí Dõi đã nhận định: "Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành Ngôn ngữ học Việt Nam là nghiên cứu để “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nhằm góp phần đưa tiếng Việt từ vị thế một ngôn ngữ vốn là của một dân tộc nửa phong kiến thuộc địa trở thành ngôn ngữ quốc gia của một nhà nước độc lập dân chủ ở Đông Nam Á. Thực hiện nhiệm vụ này cũng chính là việc ngành Ngôn ngữ học Việt Nam có trách nhiệm đưa tiếng Việt từ tình trạng một ngôn ngữ kém phát triển vươn lên vị thế của một ngôn ngữ toàn đân, ngôn ngữ quốc gia, đáp ứng đầy đủ nhu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu phát triển cao của đất nước Việt Nam mới." (Trần Trí Dõi, 2010). Ông đã kể ra những đóng góp chính trong vấn đề này: "đó là sự đóng góp cho tính thống nhất trong tính đa dạng phương ngữ của tiếng Việt. Đó là việc cung cấp một hệ thống thuật ngữ đảm bảo cho tất cả các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, chính trị và ngoại giao v.v. hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Và đó là việc đưa tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ thoả mãn nhu cầu giáo dục của đất nước."
Tại Viện Ngôn ngữ học, các nội dung này đã được hiện thực hóa trong Hội nghị khoa học toàn quốc "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ" (1979), in các báo cáo thành 2 tập vào năm 1981. Ngoài ra, các tập thể và các nhà khoa học của Viện còn xuất bản nhiều công trình với mục đích này như: Rèn luyện từ ngữ (1996), Sổ tay dùng từ (1980), Ngôn ngữ và đời sống xã hội - văn hóa (1996), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật (Đào Thản) (2000)… Trước sự phát triển của mạng internet cùng với các trang mạng xã hội, báo điện tử, việc sử dụng tiếng Việt cũng nảy sinh nhiều vấn đề của thời hiện đại như viết tắt, dùng xen từ ngữ tiếng nước ngoài, cách diễn đạt lệch chuẩn,... Năm 2016, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) phối hợp với Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học quốc gia "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các phương tiện thông tin đại chúng", hơn 200 báo cáo tham gia và đã được in thành hai tập kỉ yếu.
Góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã cho ra đời nhiều công trình ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng-ngữ nghĩa, phong cách học, phương ngữ, lịch sử tiếng Việt, ứng dụng ngôn ngữ học và Việt ngữ học,... Những nghiên cứu này hình thành nên một diện mạo tiếng Việt với tư cách một ngôn ngữ hiện đại, mang đầy đủ khả năng truyền tải những tri thức về các ngành khoa học, nghệ thuật,... Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như: Ngữ âm tiếng Việt của Đoàn Thiện Thuật (1977) và Âm vị học và Tuyến tính của Cao Xuân Hạo (1985), Từ vựng tiếng Việt (1975) và Từ vựng học tiếng Việt (1985) của Nguyễn Thiện Giáp, Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá (Hoàng Văn Hành) (1991), Từ đồng nghĩa tiếng Việt (Nguyễn Đức Tồn) (2006, 2010), Từ ngoại lai trong tiếng Việt (Nguyễn Văn Khang) (2007); Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt - T1 (1963), T2 (1964) của Nguyễn Kim Thản, Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng - từ ghép - đoàn ngữ, 1975 của Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt (1983) - công trình cấp quốc gia của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng (1991) của Cao Xuân Hạo, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (1985) của Trần Ngọc Thêm, Giáo trình Phong cách học của Phan Ngọc và sau đó là Giáo trình Tu từ học của Nguyễn Phan Cảnh (1959), Phong cách học tiếng Việt hiện đại của Hoàng Trọng Phiến (1973), Tiếng Việt trên các miền đất nước (1989), Phương ngữ học tiếng Việt (2005) của Hoàng Thị Châu, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (1979) và Giáo trình ngữ âm lịch sử tiếng Việt (1995) của Nguyễn Tài Cẩn, Tìm hiểu đặc trưng văn hoá - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Nguyễn Đức Tồn) (2002), Ngôn ngữ học xã hội (Nguyễn Văn Khang) (2012),...
Ngoài ra, các từ điển ngôn ngữ góp phần không nhỏ vào công cuộc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (xuất bản lần đầu 1988, tái bản nhiều lần), Chính tả tiếng Việt (1985), Từ điển yếu tố Hán Việt thông dụng (1991), Từ điển thành ngữ Việt Nam (1993), Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán (1994), Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt (1995),Từ điển từ láy tiếng Việt (1995), Từ điển từ mới tiếng Việt (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông (2002),...
Các từ điển đối chiếu song ngữ phổ thông và đối chiếu thuật ngữ là những sản phẩm góp phần vào việc hiện đại hóa ngôn ngữ, làm cho tiếng Việt có thể chuẩn hóa, chính xác hơn, trở thành một thứ ngôn ngữ hiện đại và khoa học: Từ điển Việt - Anh (1987), Từ điển Pháp - Việt (1992), Từ điển Việt - Pháp (1992), Từ điển Anh - Việt (2000), Từ điển Pháp - Việt (2001), Thuật ngữ ngôn ngữ học Nga - Việt (1969), Thuật ngữ mỹ thuật Pháp - Việt, Việt - Pháp (1970), Từ điển thuật ngữ thư viện học Nga - Anh - Pháp - Việt, Từ điển Anh-Việt (1975), Từ điển thuật ngữ triết học chính trị Nga - Pháp - Việt, Từ điển thuật ngữ khoa học xã hội Nga - Pháp - Việt (1979), v.v...
Có thể thấy, những quan điểm về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm,... được thể hiện trong các công trình nghiên cứu và biên soạn trên có tác dụng quy chuẩn, bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa tiếng Việt, quy hoạch tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, góp phần xác định vị thế của tiếng Việt, thực hiện những chủ trương và nhiệm vụ cụ thể, quan trọng trong chính sách ngôn ngữ.
3.2.2. Cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Để đất nước có thể ổn định và phát triển bền vững, tránh những xung đột về dân tộc và ngôn ngữ, Đảng và Nhà nước ta cần phải có chính sách dân tộc và chính sách ngôn ngữ đúng đắn.
Để hướng tới mục đích đó, Đảng và Nhà nước đã giao cho Viện Ngôn ngữ học tiến hành nhiều chương trình, đề tài nhằm có những cơ sở thực tiễn.
Đầu tiên, có thể kể đến những cuộc điều tra điền dã, kết hợp với những nghiên cứu về lí thuyết, Viện Ngôn ngữ học đã đề xuất để Chính phủ ban hành Quyết định 53/CP ngày 22 tháng 2 năm 1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số. Quyết định này đã phát huy hiệu lực trong suốt một thời gian dài trong việc đưa tiếng nói, chữ viết của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số vào các vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Thứ hai, Viện Ngôn ngữ học cũng đã được giao thực hiện chương trình Điều tra tổng thể tiếng Việt trên toàn lãnh thổ Việt Nam (1998-2000). Sau chương trình, một số công trình đã được công bố, như: Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc (1997), Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam (2002).
Thứ ba, trong thời kì hội nhập quốc tế, Viện Ngôn ngữ học được Chính phủ giao thực hiện hai chương trình nghiên cứu khoa học cơ bản:
Chương trình Những vấn đề cơ bản về chính sách ngôn ngữ của Việt Nam đến năm 2020 (2009 - 2010). Chương trình được chia thành 07 đề tài nhánh cấp Bộ, đã làm rõ và đánh giá việc thực hiện chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước trong thời gian đã qua và việc sử dụng ngôn ngữ trong các phạm vi giao tiếp hiện nay ở nước ta. Kết quả thực hiện chương trình đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp phục vụ cho việc xây dựng chính sách ngôn ngữ của Nhà nước trong giai đoạn mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần vào việc xây dựng văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chương trình Luận cứ khoa học của việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam (2011-2012). Chương trình này được chia thành 9 đề tài nhánh và 01 nhiệm vụ trọng điểm cấp Bộ, với 4 mục tiêu cơ bản: 1) Nghiên cứu lí luận về lập pháp ngôn ngữ, mối quan hệ giữa lập pháp ngôn ngữ với chính sách ngôn ngữ, kế hoạch hoá ngôn ngữ; phân tích, đánh giá các bộ luật ngôn ngữ trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với việc xây dựng bộ luật ngôn ngữ ở Việt Nam; 2) Nghiên cứu các nội dung luật hoá đối với tiếng Việt; 3) Nghiên cứu các nội dung luật hoá đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam; 4) Nghiên cứu các nội dung luật hoá đối với việc sử dụng các ngoại ngữ ở Việt Nam.
3.2.3. Phục vụ sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục của đất nước
Viện Ngôn ngữ học đã thực hiện nhiều đề tài khoa học nhằm nghiên cứu những vấn đề về lí luận và ứng dụng ngôn ngữ học trên cơ sở tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam vào sự nghiệp giáo dục. Viện đã tiến hành các chương trình điều tra tiếng Việt trong nhà trường, như: điều tra năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh phổ thông các cấp; điều tra những lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp thường gặp ở học sinh; nghiên cứu những vấn đề lí thuyết và phương pháp giảng dạy tiếng Việt; tìm hiểu chương trình tiếng Việt trong sách giáo dục phổ thông hiện nay; đánh giá thực trạng dạy và học tiếng Việt hiện nay trong nhà trường. Một số công trình đã được công bố thuộc lĩnh vực này như: Tiếng Việt trong trường học (4 quyển), Lý thuyết hoạt động ngôn ngữ và dạy tiếng Việt ở Trung học cơ sở (1998), Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường (Nguyễn Đức Tồn) (2001), Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy - học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường (Nguyễn Đức Tồn) (2003),…
Đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, theo QĐ 53/CP ngày 22 tháng 2 năm 1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số, các nhà ngôn ngữ học đã cùng với các Bộ và Ban ngành cùng các địa phương xây dựng, cải tiến chữ viết cho các dân tộc thiểu số, như: chữ viết Pa Koh - Ta Ôih, Bru - Vân Kiều, Raglai, Ka Tu, Chăm, Hroi, Hrê; xây dựng chữ Thái cải tiến, phương án La tinh hoá chữ Thái, phương án chữ Mường, đề xuất cải tiến chữ Mông,... Cho đến hiện nay, công cuộc làm chữ viết này vẫn tiếp tục được thực hiện. Đồng thời, các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành biên soạn nhiều từ điển song ngữ Việt-dân tộc, góp phần phổ biến tiếng Việt, như: Từ điển Việt - Cơ ho (1983), Từ điển Tày - Nùng - Việt(1984), Việt - Tày - Nùng (1984), Từ điển Việt - Gia Rai (1977), Từ điển Thái - Việt (1990), Từ điển Việt - Hmông (1996), Từ điển Mường - Việt (2002), Từ điển Cơ tu - Việt,Việt - Cơ tu (2007), Từ điển Ê đê - Việt (2015), Từ điển Việt-Cor, Cor-Việt (2025),... Họ cũng biên soạn các loại sách học tiếng dân tộc, các sách hướng dẫn người dân tộc thiểu số học tiếng Việt, như: Sách học tiếng Pakôh -Taôih (1986), Sách học tiếng Bru - Vân Kiều (1986), Sách học tiếng Êđê (1988), Pơrap Kơtu (Tiếng Cơ tu - 2006), Bôq chù Hrê Bình Đình (Bộ chữ Hrê Bình Định - 2008), Xroi Kool -Tiếng Cor (2014)...
4. Kết luận
Bài viết đã góp phần tìm hiểu một cách cơ bản nội dung nền tảng tư tưởng của Đảng, những quan điểm chủ yếu của Đảng và Nhà nước về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, những đóng góp của ngành Ngôn ngữ học trong việc thực hiện các chính sách đó với quan niệm rằng những đóng góp đó chính là nhằm mục đích bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Có thể thấy, ngành Ngôn ngữ học, từ khi ra đời cho đến nay, đã luôn thực hiện những nhiệm vụ của mình để góp phần tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà Nước, công bố các công trình nghiên cứu cũng như tạo ra những loại sách công cụ nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; cho ra đời các loại sách dạy tiếng, góp phần kéo gần khoảng cách giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam, phát triển văn hóa, giáo dục của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Hồng Cổn (2011), Ngành ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội: 55 năm nghiên cứu khoa học, https://www.ngonnguhoc.org.
2. Trần Trí Dõi (2010), 65 năm ngành Ngôn ngữ học: Thành tựu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” và những vấn đề đặt ra hiện nay, Hội thảo khoa học: Nghiên cứu và đào tạo khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam: Thành tựu và kinh nghiệm.Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) Hà Nội 15 tháng 11-2010, .https://ling.ussh.vnu.edu.vn.
3. Hoàng Văn Hành (1995). Nhìn lại chính sách ngôn ngữ của Đảng và Nhà nước ta 50 năm qua. In trong Ngôn ngữ, số 4, 1995.
4. Hoàng Văn Hành (2010). Tuyển tập Ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
5. Nguyễn Hữu Hoành (chủ biên), Nguyễn Văn Lợi, Tạ Văn Thông (2013), Ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb. Từ điển bách khoa, H.
6. Nguyễn Văn Khang (2013, 2014), Nhìn lại chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về ngôn ngữ dân tộc thiểu số và những vấn đề đặt ra với ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện nay, Ngôn ngữ và Đời sống, số 10.2013 và số 1.2014.
7. Nguyễn Văn Lợi (2012), “Công trình tra cứu về ngôn ngữ và vấn đề bảo tồn ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong”, Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, s. 2(16).
8. Tạ Văn Thông, Tạ Quang Tùng (2019), Sự mai một ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu dân tộc, Tập 8, số 2, tr. 48-54.
9. Phạm Văn Tình, Hoàng Thị Yến (2016). “Quan điểm của GS TS Hoàng Văn Hành về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và hành trình ứng dụng thực tiễn”. Kỉ yếu HTQG Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và Giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, tr. 499-505.
10. Phạm Văn Tình, Hoàng Thị Yến (2025). “Quan điểm của Giáo sư Hoàng Văn Hành về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và thực tiễn xã hội Việt Nam”. Kỉ yếu HTQG Ngôn ngữ học trên đường hiểu biết và khám phá, Nxb Thế giới, tr. 193-208.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 88.
12. Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943, Tạp chí Tiên Phong, số 1, 1945
13. https://thuvienphapluat.vn.
14. https://vass.gov.vn/tin-tuc/vien-ngon-ngu-hoc.