image banner
VI | EN
NHẬN DIỆN, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG LĨNH VỰC NGÔN NGỮ HỌC
I. NGÔN NGỮ LÀ HỒN CỐT CỦA DÂN TỘC VÀ SỨC MẠNH CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT Ngôn ngữ là một hiện tượng chính trị – xã hội mang tính sống còn, là tài sản vô giá và là nền tảng cốt lõi làm nên bản sắc riêng biệt của mỗi dân tộc. Dân tộc Việt Nam, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, luôn ý thức rõ ràng về lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trong đó có việc bảo tồn vốn tiếng nói, chữ viết riêng. Lịch sử đã chứng minh, tiếng Việt, với tư cách là ngôn ngữ quốc gia và là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, đã góp phần làm nên sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam và giúp dân tộc ta không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”, ngày 8 – 9 – 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc”.

Ngôn ngữ không chỉ là thành tố văn hóa mà còn là phương tiện để thống nhất ý chí và củng cố sức mạnh đoàn kết dân tộc. Tiếng Việt (chữ Quốc ngữ), được hình thành dựa trên ký tự Latinh từ đầu thế kỷ XX, đã trở thành chữ viết nước nhà, dễ học, dễ nhớ, dễ viết, đồng hành cùng mọi thắng lợi của cách mạng, đặc biệt trong nhiệm vụ “diệt giặc dốt” của Chính phủ non trẻ.

Ngôn ngữ không chỉ là một thành tố của văn hóa mà còn là công cụ giao tiếp quan trọng nhất chuyển tải văn hóa. Ngôn ngữ là kho báu lưu giữ và chuyển tải văn hóa của dân tộc.

Đối với cộng đồng 54 dân tộc anh em, Việt Nam là một quốc gia đa ngôn ngữ, với khoảng hơn 90 ngôn ngữ khác nhau. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn có quan điểm nhất quán và xuyên suốt, khẳng định nền văn hóa Việt Nam là sự kết tinh của tinh thần đoàn kết, thống nhất trong sự đa dạng đầy màu sắc. Chính sách của Đảng và Nhà nước luôn tôn trọng quyền mỗi dân tộc có tiếng nói, chữ viết riêng, bảo đảm quyền bình đẳng và tự do phát triển ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Quan điểm này được khẳng định từ Đại hội lần thứ Nhất (3/1935) và được xuyên suốt trong các văn bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp 1992 và 2013. Tiếng nói và chữ viết của mỗi dân tộc thiểu số (DTTS) không chỉ là vốn quý của dân tộc đó mà còn là tài sản văn hóa chung của cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương khuyến khích đồng bào DTTS học chữ Quốc ngữ nhưng đồng thời phải chăm lo lưu giữ tiếng dân tộc mình.

II. NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM VÀ HIỆN TƯỢNG XUYÊN TẠC, THÙ ĐỊCH

Các quan điểm và hiện tượng sai trái, thù địch trong lĩnh vực ngôn ngữ thể hiện trên hai mặt trận chính: tấn công vào sự trong sáng của ngôn ngữ Quốc gia (tiếng Việt phổ thông) và lợi dụng vấn đề ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm phá vỡ khối Đại đoàn kết dân tộc.

1. Thủ đoạn lợi dụng vấn đề ngôn ngữ DTTS để kích động ly khai

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán trong chính sách tôn trọng quyền mỗi dân tộc có tiếng nói, chữ viết riêng và coi tiếng nói, chữ viết của mỗi DTTS là tài sản văn hóa chung của cả nước.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại triệt để lợi dụng vấn đề ngôn ngữ DTTS để chính trị hóa và quốc tế hóa vấn đề dân tộc. Thủ đoạn của chúng là:

• Chính trị hóa các bất cập: Chúng thường xuyên lợi dụng những bất cập trong công tác bảo tồn ngôn ngữ ở một vài địa phương để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

• Kích động tư tưởng ly khai, sắc tộc cực đoan: Các đối tượng phản động kêu gọi tổ chức hội thảo quốc tế, tung tin giả, bóp méo tình hình bảo tồn văn hóa nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị. Thậm chí, chúng thành lập các hội nhóm trái pháp luật với mục đích thực chất là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào (ví dụ: chia rẽ dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh) nhằm kêu gọi thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”.

• Sử dụng phương tiện truyền thông chống phá: Các đối tượng được hậu thuẫn từ nước ngoài sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng DTTS ở hải ngoại, in ấn văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ DTTS để truyền bá thông tin chống đối, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

• Lợi dụng người có uy tín: Chúng mua chuộc, lôi kéo người có uy tín (trưởng thôn, bản, già làng, mục sư…) trong đồng bào DTTS để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

• Thổi phồng mâu thuẫn: Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số, rồi thổi phồng thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi “bảo vệ quyền con người” để kích động, dẫn dắt người nhẹ dạ.

2. Hiện tượng làm suy thoái sự trong sáng của tiếng Việt và ngôn ngữ mạng

Bên cạnh âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, tiếng Việt, với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, cũng đối diện với nguy cơ bị “phá hoại” bởi sự phát triển lệch lạc của ngôn ngữ mạng và lối sống thực dụng du nhập.

Lạm dụng và biến dạng ngôn ngữ mạng: Ngôn ngữ mạng, chú trọng tốc độ, gọn lẹ, bông đùa, đã bị một bộ phận người dùng lạm dụng, làm biến dạng tiếng Việt chính thống. Các hình thức biến dạng phổ biến bao gồm giản lược và thay thế chữ (ví dụ: dùng “k” thay cho “c”, “ui” thay cho “ôi”) khiến nhiều từ ngữ trở nên vô nghĩa, nhưng lại được sử dụng phổ biến hơn cả ngôn ngữ chính thống.

• Ngôn ngữ “lai căng” và thực dụng: Mạng xã hội là nơi ngôn ngữ “lai căng” được sử dụng rộng rãi, thay thế từ Việt Nam bằng các từ tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung như một trào lưu thể hiện sự sành điệu (ví dụ: dùng “team,” “group,” “oppa”). Hiện tượng này, cùng với lối sống thực dụng, đang dẫn đến sự phai nhạt bản sắc trong thế hệ trẻ.

• Nguy cơ xâm nhập vào các lĩnh vực trang trọng: Thứ ngôn ngữ biến dạng này không chỉ dừng lại trên mạng internet mà còn tràn vào đời sống hàng ngày, các biển hiệu quảng cáo, thậm chí cả thư xin việc, công việc, và đặc biệt là âm nhạc và nghệ thuật, nơi các nghệ sĩ trẻ đưa cả ngôn từ tục tằn, lối viết tắt, và tiếng Việt – Anh rối loạn vào tác phẩm, cổ súy cho thứ ngôn ngữ lệch lạc.

• Văng tục và bạo lực ngôn từ: Sự xuất hiện phổ biến của tục ngữ, nói bậy và các từ viết tắt của câu chửi thề (ví dụ: “vl”, “vcl”) là một biến tướng đáng lo ngại của ngôn ngữ trên mạng. Đáng lo ngại hơn, ngôn ngữ mạng còn "xâm chiếm" các tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc, nơi ca sĩ trẻ đưa cả ngôn từ tục tằn, lối viết tắt, và sự rối loạn tiếng Việt – tiếng Anh vào lời bài hát. Điều này cổ súy cho thứ ngôn ngữ lệch lạc và chứa đựng nguy cơ lớn khiến tiếng Việt bị mất dần sự trong sáng.

3. Thủ đoạn lồng ghép tư tưởng thù địch qua ngôn ngữ nghệ thuật

Các thế lực thù địch không chỉ tấn công trực diện mà còn sử dụng ngôn ngữ một cách tinh vi, xảo quyệt để lồng ghép quan điểm chống đối.

• Xuyên tạc thông qua Văn học, Nghệ thuật: Văn học, nghệ thuật là "mảnh đất" thường bị các thế lực thù địch lợi dụng để thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" nhằm gieo rắc những tư tưởng phản động. Chúng lợi dụng chiêu bài "tự do dân chủ," "tự do ngôn luận," nấp sau những hình tượng ẩn dụ của văn học, nghệ thuật để xây dựng hình tượng nhân vật mang màu sắc chống đối, đả kích Đảng, chế độ. Chúng phủ nhận thành tựu giải phóng dân tộc, kích động sự thù hằn, chia rẽ khối đại đoàn kết, gieo rắc tư tưởng bi quan.

 • “Đan cài” và “Ẩn giấu”: Chúng lồng ghép, “ẩn giấu” tư tưởng phản động phía sau ngôn ngữ văn học, thơ ca, hoặc những câu chuyện phản ánh đời sống bình thường để truyền bá cái nhìn tiêu cực, phiến diện, cực đoan về chế độ xã hội chủ nghĩa. Thủ đoạn này kết hợp quan điểm đúng - sai, thật - giả, thổi phồng tính hợp lý, gây khó khăn trong việc nhận diện.

• Bóp méo thông tin: Dựa trên các sự kiện có thật, chúng cắt xén một phần, bịa đặt chi tiết, làm sai lệch thông tin bằng cách dùng thủ đoạn “thêm, bớt”. Chúng thổi phồng, phóng đại một sự kiện nhỏ thành sự kiện lớn, gây hoang mang, bán tín bán nghi trong nhân dân.

• Tấn công sự trong sáng trong lãnh đạo: Chúng còn công kích trực tiếp vào ngôn từ của lãnh đạo Đảng, Chính phủ Việt Nam, cố tình giật tít đánh lừa người đọc, hướng lái dư luận theo chiều suy nghĩ méo mó, tùy tiện, cho rằng Việt Nam vẫn giữ “tư duy, ngôn ngữ thời chiến” trong thời bình, nhằm phủ nhận tính chính xác và đúng đắn trong thông điệp của Đảng.

III. NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ

Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực ngôn ngữ là nhiệm vụ lâu dài và phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của cả hệ thống chính trị. Để nâng cao năng lực và hiệu quả công tác này, cần triển khai các giải pháp mang tính chiến lược về mặt ngôn ngữ:

1. Chuẩn hóa và phổ thông hóa ngôn ngữ tuyên truyền

Đầu tiên, cần rà soát, chuẩn hóa, thống nhất các khái niệm, thuật ngữ, các từ ngữ chuyên dùng liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sự không rõ ràng của một số thuật ngữ là kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng bóp méo, xuyên tạc sự thật.

Thứ hai, trong công tác tuyên truyền, cần sử dụng ngôn ngữ phổ thông, đại chúng, với từ ngữ đơn nghĩa, rõ ràng, chính xác, kết hợp với cách diễn đạt đơn giản, ngắn gọn, trọng tâm, trọng điểm. Điều này giúp quần chúng nhân dân dễ tiếp nhận, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ vận dụng, đồng thời làm giảm hiệu quả của các luận điệu xuyên tạc.

2. Chủ động về thông tin và đa dạng hóa phương tiện

Cần cung cấp, chia sẻ thông tin một cách đầy đủ, chính xác, rõ ràng và kịp thời, đồng thời phải gắn với ngữ cảnh, bối cảnh của thông tin, sự kiện để người tiếp nhận có cái nhìn toàn diện, tránh hiểu nhầm, hiểu sai do thông tin nửa vời.

Cần đa dạng hóa ngôn ngữ và các kênh thông tin tuyên truyền. Với phương châm "các thế lực thù địch, phản động dùng ngôn ngữ gì để tấn công, chúng ta sẽ dùng chính ngôn ngữ đó để đấu tranh phản bác". Các hình thức tuyên truyền cần đa dạng hóa, từ sách báo, tạp chí đến hình ảnh, clip, khẩu hiệu trên mạng xã hội để thu hút mọi tầng lớp nhân dân.

3. Tăng cường năng lực ngôn ngữ và xử lý vi phạm

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực ngôn ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, kiểm duyệt thông tin, đặc biệt là khả năng nhận diện, phân biệt những cách nói, cách viết ẩn dụ, mập mờ, ám chỉ có chủ đích nhằm chứa đựng tư tưởng sai trái. Đồng thời, bồi dưỡng cho quần chúng nhân dân năng lực nhận diện và đấu tranh phản bác, nâng cao sức “đề kháng”, tạo cơ chế “miễn dịch” với thông tin xấu độc, quan điểm sai trái.

Đối với riêng ngôn ngữ DTTS có thể thêm các đề xuất sau:

• Khảo sát và xây dựng đề án: Tổ chức nghiên cứu, khảo sát, đánh giá khách quan những kết quả đạt được và những khó khăn tồn tại khi dạy và học tiếng nói, chữ viết của đồng bào DTTS. Cần khảo sát, điều tra nhu cầu, nguyện vọng học tiếng dân tộc thiểu số của đồng bào về nội dung, hình thức, chương trình và loại chữ đưa vào giảng dạy.

Đào tạo giáo viên và cơ sở vật chất: Các trường Sư phạm cần quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy tiếng, chữ dân tộc thiểu số. Cần hỗ trợ cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, kinh phí cho đội ngũ làm công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa các dân tộc.

Đa dạng hóa hình thức giảng dạy: Ngoài dạy và học tại trường, cần nghiên cứu các phần mềm hỗ trợ tra từ điển, học trực tuyến, qua trình chiếu, đĩa CD, phát thanh, báo chí. Cần khuyến khích sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt cộng đồng.

Xuất bản ấn phẩm: Hỗ trợ xuất bản các ấn phẩm như sách, báo, tạp chí, đĩa CD, video, lập các trang tin điện tử bằng chính chữ viết DTTS để tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa của đồng bào được thể hiện gắn liền với cuộc sống, sinh hoạt của họ.

Cuối cùng, cần xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tiếng nói, chữ viết của đồng bào DTTS để gây chia rẽ khối Đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam. Trong lĩnh vực văn hóa, cần kiểm soát tốt các khâu công bố, xuất bản, phát hành, và kiên quyết thu hồi, xử lý nghiêm minh những trường hợp cố tình lợi dụng kẽ hở của không gian mạng để phát tán tác phẩm có nội dung thiếu lành mạnh, gây tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc.

Ngôn ngữ là "vũ khí" hai lưỡi trên mặt trận tư tưởng. Đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực ngôn ngữ chính là bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ các dân tộc anh em, và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác này cần sự kiên trì, bình tĩnh, đồng bộ nhiều biện pháp. Như cách tổ tiên ta đã dùng tài trí để giữ được tiếng nói dân tộc trước sự đồng hóa, ngày nay chúng ta phải phát huy trí tuệ để biến ngôn ngữ thành lá chắn thép bảo vệ sự nghiệp cách mạng.
Tác giả: Phan Hoàng Anh

Phan Hoàng Anh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1