image banner
VI | EN
Chủ trương của Đảng về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954): Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại

Hơn bẩy mươi năm qua, thấm nhuần sâu sắc đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện lời dạy ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và giúp đỡ họ”[1]. Đảng, Nhà nước, nhân dân và lực lượng vũ trang ta luôn luôn trân trọng, ghi nhớ công ơn và làm được nhiều việc tốt để tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, quý trọng đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với nước. Những việc làm đó không những có ý nghĩa về mặt đạo lý mà còn có tác động thiết thực tạo động lực to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) là dịp để nhìn lại và khẳng định giá trị bền vững của quan điểm, chủ trương của Đảng về chăm lo thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Ngay từ những năm đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), mặc dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn về chính trị, quân sự và kinh tế, Đảng vẫn đặc biệt quan tâm xây dựng hệ thống chủ trương, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ và người có công. Những chủ trương đó không chỉ thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc mà còn phản ánh bản chất nhân văn của chế độ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và tạo nguồn sức mạnh tinh thần quan trọng cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Trên cơ sở phân tích chủ trương của Đảng về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), bài viết làm rõ giá trị lịch sử của những chủ trương đó, đồng thời khẳng định ý nghĩa thời đại đối với việc hoàn thiện chính sách người có công trong tình hình mới.


1. Chủ trương của Đảng về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng đã xác định con người là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong điều kiện nền kinh tế kiệt quệ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngân sách quốc gia còn hết sức hạn hẹp, cuộc kháng chiến phải đối mặt với muôn vàn khó khăn về vật chất, việc chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ và những người trực tiếp tham gia kháng chiến vẫn được đặt trong hệ thống các nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Điều đó phản ánh một tư duy nhất quán: mọi thắng lợi của cách mạng đều được đánh đổi bằng sự hy sinh, cống hiến của nhân dân; vì vậy, chăm lo người có công không chỉ là nghĩa cử nhân đạo mà còn là trách nhiệm chính trị của Đảng và Nhà nước cách mạng.

Khác với quan niệm phúc lợi xã hội thuần túy, các chủ trương của Đảng thời kỳ này được xây dựng trên sự kết hợp giữa đạo lý truyền thống của dân tộc với lý tưởng cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định những người đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc là những người có công lớn đối với dân tộc, cần được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tri ân, chăm sóc. Nhằm động viên các gia đình có người đã hi sinh, ngày 2-10-1945, Bác Hồ đã đến Nhà thờ Lớn làm lễ cầu hồn cho các chiến sĩ hy sinh ở miền nam và trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 20-11-1945, Người đề nghị Chính phủ ra Sắc lệnh truy tặng năm liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc tại quận Cái Răng, Cần Thơ ngày 12-11-1945[2]. Tiếp đó, trong thư “Gửi các chiến sĩ Nam Bộ và Nam phần Trung Bộ” tháng 12-1945, Bác tin tưởng rằng: “Với một nước đã có những người con hy sinh như thế, anh hùng như thế, đã có một khối toàn dân đoàn kết như thế, nước ta nhất định không mất lại một lần nữa. Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta còn phải chiến đấu nhiều. Chỉ có chiến đấu mới vượt được những trở lực, khó khăn, chỉ có chiến đấu mới đưa lại vẻ vang cho Tổ quốc. Các bạn ở tiền tuyến không bao giờ cô độc, vì đã có cả một khối đoàn kết làm hậu thuẫn cho mình. Thắng lợi cuối cùng nhất định về ta”[3].

Từ tư tưởng đó, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ từng bước được định hình như một bộ phận cấu thành của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện. Sự phát triển của hệ thống chủ trương trong giai đoạn 1945-1954 cho thấy tư duy của Đảng ngày càng hoàn chỉnh.

Thứ nhất, xác lập trách nhiệm chính trị của Đảng và Nhà nước đối với người có công. Các chỉ thị, thông tri và lời kêu gọi của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều thống nhất khẳng định việc chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ không phải là hoạt động cứu trợ mang tính tình thế mà là trách nhiệm thường xuyên của chính quyền cách mạng. Từ Chỉ thị vận động “Mùa đông binh sĩ” (7-9-1947) đến các lời kêu gọi nhân dịp toàn quốc kháng chiến các năm 1947, 1949 và 1950, Đảng luôn đặt việc tri ân sự hy sinh của chiến sĩ, đồng bào trong mối quan hệ trực tiếp với nhiệm vụ giữ vững độc lập dân tộc và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp kháng chiến. Điển hình, trong Lời kêu gọi nhân dịp ba năm toàn quốc kháng chiến (19-12-1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trong ba, bốn năm vừa qua, hàng ngàn, hàng vạn chiến sỹ, đồng bào đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc, đã đưa xương máu để giữ gìn non sông. Tôi thay mặt Chính phủ, chiến sỹ và đồng bào kính cẩn nghiên mình trước linh hồn các liệt sỹ mà hứa rằng: Toàn thể quân và dân Việt Nam kiên quyết noi gương anh dũng của các liệt sĩ, kiên quyết đánh tan giặc thực dân cướp nước, để tranh lại độc lập và thống nhất thật sự cho nước ra. Nhân dịp này, tôi gửi lời thân ái an ủi các thương binh, cựu binh và gia đình các liệt sĩ”[4]. Chỉ thị của Ban Bí thư về việc đón tiếp bộ đội, thương binh, một số cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc (31-8-1954), đã nêu rõ: “Cần có thái độ ân cần, săn sóc giúp đỡ anh chị em miền Nam ra giải quyết mọi sự khó khăn, lo lắng coi như đối với anh chị em ruột thịt, càng không phải là có thái độ ban ơn, mà chính là phải có thái độ đối với những người có công với Tổ quốc, có công với bản thân mình và đã cùng mình chiến đấu gian khổ lâu ngày”[5].

Hay trong Chỉ thị của Ban Bí thư ngày 14-12-1954 về việc tu sửa, thăm viếng mộ phần các liệt sĩ quân đội nhân dân đã hy sinh trong thời kỳ kháng chiến. Chỉ thị viết: “Trong cuộc kháng chiến cứu nước vừa qua, biết bao cán bộ và chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã hy sinh xương máu để đem lại thắng lợi vĩ đại cho toàn dân. Công ơn ấy thật vô cùng lớn lao. Trước đây trong hoàn cảnh kháng chiến, việc giữ gìn và tu sửa, thăm viếng mộ phần liệt sỹ gặp nhiều khó khăn nên ta chưa làm được chu đáo. Ngày nay hòa bình đã được lập lại, hoàn cảnh thuận tiện hơn, chúng ta có nhiệm vụ lãnh đạo quân và dân tham gia việc sưu tầm, tu sửa thăm viếng và giữ gìn những mộ phần các liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với những con yêu của Tổ quốc đã vì nước bỏ mình. Nhất là lúc này, thâm thuộc các liệt sĩ đều mong muốn được đến thăm mộ chồng con, anh em mình, nên chúng ta càng không thể để nguyên tình trạng cũ”[6].

Ngày 2/9/1955, Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới đặt vòng hoa viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh. Nguồn: https://baochinhphu.vn/tam-long-cua-bac-ho-voi-thuong-binh-liet-si-102296463.htm, truy cập 26/7/2026.

Thứ hai, từng bước xã hội hóa việc chăm lo người có công trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Nếu Nhà nước giữ vai trò lãnh đạo và tổ chức thì nhân dân là chủ thể trực tiếp tham gia thực hiện chính sách. Chính vì vậy, Đảng chủ trương phát động nhiều phong trào: Đối với phong trào vận động “Mùa đông binh sĩ”, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị (7-9-1947), nêu rõ: “1. Tích cực tuyên truyền vận động để cho có kết quả mỹ mãn[7]”, đối với phong trào “Đỡ đầu bộ đội”, vận động nhân dân đón thương binh, bệnh binh về xã, tổ chức các gia đình chiến sĩ, chăm sóc gia đình quân nhân và tu sửa mộ phần liệt sĩ. Ngày 17-12-1948, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị về việc đỡ đầu bộ đội, chỉ thị nêu: “Phải tích cực gây một phong trào mạnh mẽ liên tiếp “Đỡ đầu bộ đội” sâu rộng trong dân chúng, trong các đoàn thể; Vận động các đoàn thể, các gia đình, các cá nhân đỡ đầu những đơn vị bộ đội, một số anh em hay một cá nhân binh sĩ. Nên gây thành một phong trào lập những “gia đình chiến sỹ” khắp nơi nhận các chiến sĩ làm con hay anh em”[8]. Tiếp đó, ngày 29-12-1948, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị “Về việc các cấp bộ Đảng giúp đỡ dân quân tiến tới tự túc”, chỉ thị nêu: “hết sức vận động nhân dân, các đoàn thể đỡ đầu các đội đu kích”[9]… Điểm đáng chú ý là trong tất cả các chủ trương đó, Trung ương đều yêu cầu tuyệt đối tránh cưỡng ép, tránh hình thức, phát huy tinh thần tự nguyện của nhân dân. “Tránh bắt dân chúng ủng hộ một cách bắt buộc, làm cho thấy việc giúp đỡ binh sỹ là một cái ách cho họ”[10]. Điều này phản ánh nhận thức rất sớm của Đảng về mối quan hệ giữa phát huy quyền làm chủ của nhân dân với hiệu quả thực hiện chính sách xã hội.

Thứ ba, gắn chính sách người có công với nhiệm vụ xây dựng lực lượng cách mạng và củng cố hậu phương kháng chiến. Đảng nhận thức rõ rằng, việc chăm lo chu đáo thương binh, gia đình liệt sĩ không chỉ giải quyết đời sống trước mắt mà còn tác động trực tiếp đến tinh thần chiến đấu của bộ đội, công tác động viên thanh niên nhập ngũ và sự gắn bó giữa quân đội với nhân dân. Vì vậy, nhiều chỉ thị của Trung ương yêu cầu các địa phương phải coi việc đón thương binh, chăm sóc gia đình quân nhân là “nghĩa vụ và vinh dự”, đồng thời phê bình nghiêm khắc những biểu hiện thờ ơ hoặc coi đây là gánh nặng của địa phương. Ngày 24-4-1953, trong Thông tri của Ban Bí thư về việc vận động nhân dân đón thương binh, bệnh binh về xã, đã nhắc nhở: “Cuộc kháng chiến của ta ngày càng phát triển. Số thương binh, bệnh binh ngày càng tăng, do đó cần đẩy mạnh hơn việc vận động nhân dân đón thương binh, bệnh binh về xã. Vì vậy, năm nay Trung ương quyết định vận động thương binh, bệnh binh về một số xã thuộc các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thị, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Việc đưa thương bình, bệnh binh về xã năm nay sẽ làm vào hai vụ mùa và chiêm, và kết hợp với công tác phát động quần chúng. Kế hoạch vận động nhân dân đón thương binh, bệnh binh về xã năm nay do Ủy ban Liên Việt toàn quốc, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Bộ Thương binh Cựu binh đề ra đã được Trung ương đồng ý. Các cấp bộ đảng liên lạc với các Ủy ban Liên Việt các địa phương, các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các sở, các ty thương binh cựu binh để thảo luận chi tiết bản kế hoạch đó, phối hợp với tình hình địa phương mà thi hành”[11]. Đặc biệt, trong Chỉ thị của Ban Bí thư ngày 31-8-1954 về việc đón tiếp bộ đội, thương binh, một số cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc, đã nhấn mạnh: “Cần tổ chức một cuộc tuyên truyền, giáo dục một cách sâu rộng cho cán bộ và đồng bào ở địa phương về nghĩa vụ đón tiếp bộ đội, thương binh, cán bộ và đồng bào miền Nam ra. Việc tuyên truyền, giáo dục này phải làm cho cán bộ và nhân dân nhận thấy việc đón tiếp và giúp đỡ này là một nghĩa vụ và cũng là vinh dự của mình”[12].

Nhìn tổng thể, giai đoạn 1945-1954 đánh dấu sự hình thành tương đối đầy đủ hệ thống chủ trương, quan điểm của Đảng về chính sách đối với công tác thương binh, liệt sĩ và người có công. Những chủ trương đó vừa mang tính nhân văn sâu sắc, vừa phản ánh tư duy cầm quyền của một Đảng cách mạng, trong đó việc tri ân người có công được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố hậu phương kháng chiến và bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

2. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại

Chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng trong những năm 1945-1954 không chỉ có giá trị lịch sử mà còn mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước hết, các chủ trương của Đảng là minh chứng rõ ràng bác bỏ luận điệu cho rằng chính sách ưu đãi người có công chỉ xuất hiện khi đất nước hòa bình hoặc khi điều kiện kinh tế phát triển hơn. Ngược lại, ngay trong hoàn cảnh kháng chiến vô cùng gian khổ, khi nguồn lực quốc gia còn rất hạn chế, Đảng vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và những người trực tiếp cống hiến cho cách mạng. Điều đó khẳng định chính sách người có công bắt nguồn từ bản chất nhân văn của Đảng và chế độ cách mạng.

Thứ hai, thực tiễn lịch sử cho thấy Đảng rất sớm nhận thức được mối quan hệ giữa hiệu quả thực hiện chính sách với công tác tư tưởng. Chỉ thị ngày 22-12-1952 của Ban Bí thư đã chỉ rõ rằng việc thiếu quan tâm đến thương binh, gia đình liệt sĩ có thể bị đối phương lợi dụng để xuyên tạc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân và ảnh hưởng đến công tác động viên thanh niên tham gia kháng chiến[13]. Nhận thức này có ý nghĩa vượt thời đại, bởi nó đặt nền móng cho tư duy hiện nay: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ được thực hiện bằng tuyên truyền, giáo dục hay đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái mà còn bằng việc tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, những kinh nghiệm lịch sử trong kháng chiến tiếp tục được kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, cũng như Chiến dịch 500 ngày tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hiện nay đều là sự tiếp nối trực tiếp tư tưởng xuyên suốt đã được hình thành từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng, ngày 14-12-1954, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị về việc tu sửa, thăm viếng mộ phần các liệt sĩ quân đội nhân dân đã hy sinh trong thời kỳ kháng chiến. Chỉ thị nhấn mạnh: “Ngày nay hòa bình đã được lập lại, hoàn cảnh thuận tiện hơn, chúng ta có nhiệm vụ lãnh đạo quân và dân tham gia việc sưu tầm, tu sửa thăm viếng và giữ gìn những mộ phần các liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với những con yêu của Tổ quốc đã vì nước bỏ mình. Nhất là lúc này, thâm thuộc các liệt sĩ đều mong muốn được đến thăm mộ chồng con, anh em mình, nên chúng ta càng không thể để nguyên tình trạng cũ”[14]. Chính sự kế thừa đó khẳng định tính nhất quán trong đường lối của Đảng, đồng thời bác bỏ những quan điểm xuyên tạc cho rằng chính sách người có công chỉ mang tính hình thức hoặc thiếu tính bền vững.

Những chủ trương của Đảng về chăm lo thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng được hình thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp không chỉ có giá trị đối với giai đoạn lịch sử cụ thể mà còn được kế thừa, bổ sung và phát triển nhất quán trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về lòng biết ơn đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định chính sách ưu đãi người có công là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, đồng thời là biểu hiện sinh động của bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này khẳng định sự thống nhất giữa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc với quan điểm nhất quán của Đảng về xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, quan điểm đó tiếp tục được cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định nhiệm vụ: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công... bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú”[15]. Đây không chỉ là mục tiêu về an sinh xã hội mà còn thể hiện sự chuyển biến từ bảo đảm đời sống tối thiểu sang nâng cao chất lượng cuộc sống, hướng tới sự phát triển toàn diện của người có công và gia đình họ. Kế thừa tinh thần đó, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030: “Bảo đảm mức sống của gia đình người có công từ mức trung bình khá trở lên so với mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú”[16]. Việc tiếp tục khẳng định mục tiêu này cho thấy chăm lo người có công không phải là chính sách mang tính ngắn hạn hay giải quyết hậu quả chiến tranh đơn thuần, mà là định hướng chiến lược lâu dài trong xây dựng và phát triển đất nước. Giá trị của hệ thống chủ trương về thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng không chỉ nằm ở ý nghĩa nhân văn hay chính sách xã hội, mà còn thể hiện ở tầm nhìn chính trị của Đảng trong việc gắn hiệu quả thực hiện chính sách với việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với chế độ cách mạng.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, Đảng đã sớm nhận thức rằng mọi hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách, nếu không được kịp thời khắc phục, không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người có công mà còn tác động trực tiếp đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang và uy tín của Đảng trong nhân dân. Nhận thức đó được thể hiện rõ trong Chỉ thị ngày 22-12-1952 của Ban Bí thư về việc các cấp đảng bộ địa phương tham gia xây dựng Quân đội nhân dân. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Ban Bí thư đã chỉ ra những biểu hiện chưa đúng trong việc đón thương binh, bệnh binh về địa phương và chăm lo gia đình quân nhân, liệt sĩ; đồng thời cảnh báo hậu quả chính trị của những hạn chế này. Chỉ thị nhấn mạnh rằng, ở một số nơi, việc đón thương binh chưa được coi là “một nhiệm vụ, một vinh dự của xóm, làng” mà bị xem như gánh nặng; nhiều địa phương còn lơ là trong chăm sóc gia đình quân nhân, tử sĩ, dẫn đến tình trạng gia đình bất mãn, thanh niên ngại tòng quân, bộ đội lo lắng về tương lai của bản thân và gia đình. Đặc biệt, Ban Bí thư chỉ rõ: “Quân địch đã lợi dụng các khuyết điểm trên của ta để phản tuyên truyền, xuyên tạc nghĩa vụ tòng quân, mua chuộc lôi kéo đội viên và thanh niên ta”[17]. Đây là một nhận định có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cho thấy ngay trong điều kiện kháng chiến, Đảng đã nhận diện rõ mối quan hệ hữu cơ giữa hiệu quả thực hiện chính sách đối với người có công với công tác tư tưởng, công tác dân vận và cuộc đấu tranh chống các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của đối phương.

Giá trị của nhận thức đó vẫn còn nguyên tính thời đại trong bối cảnh hiện nay. Cùng với sự phát triển của internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường lợi dụng những tồn tại, bất cập hoặc những vụ việc cá biệt trong quá trình thực hiện chính sách đối với người có công để quy kết, xuyên tạc bản chất của chế độ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Thực tiễn này cho thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ trên mặt trận lý luận, tư tưởng và truyền thông, mà còn đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện và bảo đảm đầy đủ, kịp thời các quyền lợi chính đáng của người có công. Khi chính sách được thực thi nghiêm túc, công bằng và hiệu quả, mỗi kết quả đạt được không chỉ mang ý nghĩa an sinh xã hội mà còn trở thành minh chứng thực tiễn khẳng định bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao sức đề kháng của xã hội trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Lê Minh Hưng và các đại biểu dự Chương trình cầu truyền hình "Sao sáng dẫn đường" tại điểm cầu Hà Nội, tối ngày 26/7/2026. Nguồn: https://nhandan.vn/anh-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-va-thu-tuong-le-minh-hung-du-chuong-trinh-cau-truyen-hinh-sao-sang-dan-duong-tai-diem-cau-ha-noi-post977969.html, truy cập 26/7/2026.

3. Kết luận

Quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) cho thấy chủ trương của Đảng về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công được hình thành từ rất sớm, phát triển nhất quán và từng bước hoàn thiện gắn với yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chế độ mới. Trong điều kiện chiến tranh vô cùng gian khổ, Đảng không chỉ xác lập trách nhiệm của Nhà nước đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc mà còn khơi dậy và tổ chức sức mạnh của toàn xã hội trong thực hành đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân và tạo nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Những chủ trương đó không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt của cuộc kháng chiến mà còn đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển hệ thống chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước Việt Nam trong suốt tiến trình cách mạng.

Trong bối cảnh mới hiện nay, những chủ trương của Đảng về công tác thương binh, liệt sĩ và người có công tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh tính chính danh, bản chất cách mạng và sức sống của một chế độ không chỉ được thể hiện ở hệ thống quan điểm, đường lối đúng đắn mà còn được khẳng định bằng khả năng hiện thực hóa những quan điểm đó thành các chính sách nhân văn, được tổ chức thực hiện hiệu quả và mang lại những giá trị thiết thực cho nhân dân. Việc tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách ưu đãi người có công; đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; chăm lo toàn diện đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công không chỉ là sự kế thừa và phát huy truyền thống nhân văn của Đảng và dân tộc mà còn là minh chứng sinh động cho bản chất vì nhân dân phục vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây đồng thời là cơ sở thực tiễn có sức thuyết phục để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nguồn lực tinh thần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như cung cấp những luận cứ khoa học và minh chứng thực tiễn “đanh thép” trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc chính sách người có công của các thế lực thù địch.

 
Chú thích:
[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 10, tr. 372.

[2] Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 50, tờ 94.

[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4, tr. 154.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 10 (1949), tr.316.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 15 (1954), tr.259-261.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 15 (1954), tr.406.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8 (1945-1947), tr.287-288.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 9 (1948), tr.440-441.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 9 (1949), tr.449.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8 (1945-1947), tr.287-288.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 14 (1953), tr.197-198.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 15 (1954), tr.259-261.

[13] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 13 (1952), tr.377-378.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 15 (1954), tr.406.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 148-149.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 109.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tập 13 (1952), tr.377-378.

ThS. Hoàng Thị Hà - Trang Thông tin điện tử Viện Sử học
Nguồn bài viết: https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/chu-truong-cua-dang-ve-cong-tac-thuong-binh-liet-si-va-nguoi-co-cong-trong-khang-chien-chong-thuc-d-578336
Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1