hiệu lực ở thời điểm các chủ thể quan hệ pháp luật có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật. Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua 12.11.1996 và chủ tịch nước công bố 23.11.1996 quy định về HLTH của các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như sau: 1) Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể từ ngày chủ tịch nước kí lệnh công bố, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác. 2) Văn bản quy phạm pháp luật của chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày đăng công báo, trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác. 3) Văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ, thủ tướng chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ ngang bộ, hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao, viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch có hiệu lực pháp luật sau mười lăm ngày, kể từ ngày kí văn bản, hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó. Đối với văn bản quy phạm pháp luật của chính phủ, thủ tướng chính phủ, trong đó có quy định thi hành biện pháp khẩn cấp, thì văn bản đó có thể có quy định ngày có hiệu lực sớm hơn.