image banner
VI | EN
PHOTPHAT THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM

đá trầm tích chứa canxi photphat có thể khai thác làm phân bón. Gồm hai nhóm: 1) Nhóm apatit là photphat biến chất, kết tinh thành những vi tinh thể apatit, độ cứng cao, khó hoà tan trong axit yếu. Hàm lượng P2O5 thay đổi theo loại quặng từ 15 đến  36%. Loại quặng loại I chứa 34 - 36% P2O5 có thể xuất khẩu hoặc chế biến thành supe photphat; các loại quặng khác cần làm giầu trước khi chế biến. Quặng apatit tập trung ở mỏ apatit Lào Cai (x. Mỏ apatit Lào Cai).

2) Nhóm photphorit thường gồm những kết hạch canxi photphat vô định hình, chứa sắt, nhôm, hàm lượng P2O5 thường thấp, từ 5 đến 34%, dễ hoà tan trong axit yếu, vì vậy khi xay nhỏ có thể làm phân bón trực tiếp. Thường gặp trong các núi đá vôi ở Vĩnh Thịnh (Lạng Sơn), Nam Phát, Yên Sơn, Thượng Hoà (Quảng Nam), Kiên Lương (Kiên Giang). Ngoài ra còn gặp dưới dạng phân chim ở Hoàng Sa.

Từ 1958 đến nay, tất cả các loại photphat thiên nhiên đều có thể sử dụng trực tiếp và tận dụng để chế biến làm phân bón; chỉ có một loại quặng giàu lân (từ 30 - 35% trở lên) được xuất khẩu. Những điều kiện thuận lợi để cây sử dụng được chất lân của photphat thiên nhiên (kể cả apatit và photphoric) và cho mùa màng bội thu cao, có khi rất cao: đất chua, nghèo lân, giàu hoặc có khá chất hữu cơ; không bón đơn độc phân lân, mà có kèm theo đạm khoáng (nhất là ure) và một ít phân kali; xử lí vi sinh vật, xử lí bằng một ít axit khoáng làm tăng mức độ hữu hiệu của photphat thiên nhiên. Kĩ thuật pha trộn photphat thiên nhiên với phân lân hoà tan (supe lân, DAP, vv.) để bón, đạt năng suất cao nhất và để có hiệu quả lâu dài nhất.

Chuyên ngành: Nông nghiệp
Địa lý: HIÊN
Địa lý