loại thuế đánh vào các thể nhân và pháp nhân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có hoạt động khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản...). Tiền thu từ TTN sẽ được nộp cho ngân sách nhà nước. TTN nhằm mục đích khuyến khích, thúc đẩy việc khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lí, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường đồng thời đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, các quy định về việc đóng, thu TTN được quy định rõ trong Pháp lệnh thuế tài nguyên của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành 7.1.1991. Theo đó, các đối tượng tính TTN là: 1) Tài nguyên khoáng sản kim loại và không kim loại, kể cả đá, cát, sỏi và đất làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; 2) Sản phẩm của rừng tự nhiên như gỗ, củi, sản phẩm khác của rừng; 3) Cá và các loại thuỷ sản tự nhiên khác. Tất cả các tổ chức, cơ quan, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cá nhân thực hiện các hoạt động có khai thác và sử dụng các loại tài nguyên nêu trên đều phải đóng TTN, trừ các cơ quan, xí nghiệp khai thác sản phẩm rừng tự nhiên mà có đóng tiền nuôi rừng theo quy định của Nhà nước và các xí nghiệp khai thác các nguồn nước tự nhiên trừ nguồn nước dùng cho sản xuất thuỷ điện. Mức thuế được quy định bằng số tuyệt đối hoặc tỉ lệ phần trăm trên giá trị tài nguyên đã khai thác và sử dụng. Căn cứ tính thuế dựa vào sản lượng tài nguyên khai thác, giá tính thuế của một đơn vị sản phẩm và thuế suất.