thuế đánh vào lợi tức của các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thuộc các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác. Căn cứ để tính thuế là tổng lợi tức chịu thuế cả năm và thuế suất. Lợi tức chịu thuế = tổng doanh thu - các khoản chi phí kinh doanh + các khoản lợi tức khác. Luật thuế lợi tức do nhà nước ban hành năm 1990 quy định thuế suất lợi tức như sau: các ngành sản xuất thuộc khối công nghiệp nặng, thuế suất bằng 30% lợi tức chịu thuế; các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và sản xuất khác - 40%; thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ - 50%. Đối với các hộ tư nhân kinh doanh, nếu có lợi tức hằng tháng trên 6 triệu đồng, thì ngoài việc phải nộp TLT theo kiểu thuế suất ổn định, còn phải nộp thêm TLT bổ sung. Các hộ kinh doanh nhỏ nộp TLT theo thuế suất khoán tính trên doanh thu (từ 1 đến 2% tuỳ theo ngành sản xuất kinh doanh). Cơ sở kinh doanh buôn chuyến nộp TLT theo tỉ lệ khoán trên doanh thu tính thuế là 3%. Luật thuế lợi tức cũng quy định một số trường hợp giảm thuế và miễn thuế đối với các tổ chức và cá nhân hoạt động kinh doanh ở miền núi; hoạt động bị thiệt hại do thiên tai, dịch hại, tai nạn bất ngờ; hoạt động bị lỗ ở các ngành nghề cần khuyến khích đầu tư, dành lợi nhuận để tái đầu tư trong một số ngành nghề cần khuyến khích đầu tư; hoạt động sản xuất, dịch vụ thuộc kinh tế gia đình, vv.