(M’ nông - người ở miền núi), tên tự gọi, đồng thời là tên gọi của một dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Gồm các nhóm địa phương: Ga (Gar), Nông, Kuênh, Pre (Preh), Prông, Rlâm, Buđâng, Chin, Buno (Bunor), Dibri, Đip, Biat, Buđê, Sitô, Ka (Kah), Phêđâm, vv. Số dân 92.451 (1999); ở Cămpuchia có khoảng 1.200 người với tên gọi Pnông. Cư trú chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc (36.300 người). Ngoài ra còn ở hai tỉnh Lâm Đồng (4.200 người) và Bình Phước (4.200 người). Sử dụng ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Kinh tế nông nghiệp; cuốc, trồng trọt trên nương rẫy. Ruộng nước chỉ có ở những nơi gần đầm, hồ, sông, suối. Có nghề săn voi và thuần dưỡng voi, đặc biệt ở nhóm Buđâng và Pre. Một số ở nhà sàn và một số ở nhà đất, loại nhà dài. Làng (bon, buôn) thường dựng ở chân núi. Trai gái đến tuổi trưởng thành phải cưa răng, nhuộm răng đen. Con gái 6, 7 tuổi đã xâu tai. Hoa tai có thể là một khúc ngà voi, một khoanh nứa ống hoặc một khúc gỗ quý. Xã hội còn nhiều tàn tích của chế độ mẫu quyền. Hôn nhân phần lớn chồng cư trú bên vợ. Con cái theo họ mẹ.

Người Mơ Nông