image banner
VI | EN
HẢI DƯƠNG

tỉnh ở đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Diện tích 1.660,9 km2. Gồm một thành phố Hải Dương (tỉnh lị), 11 huyện (Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, Kinh Môn, Cẩm Giàng, Bình Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện). Dân số 1.652.900 (1999). Địa hình bằng phẳng, có vùng đồi núi thấp ở phía bắc (dãy Côn Sơn - Chí Linh) và đồi sót ở Kinh Môn. Đất phù sa màu mỡ. Sông chính: Thái Bình, sông Luộc, Kinh Thày chảy qua. Hồ chính: Nhãn Huệ, Triều Dương. Khoáng sản: than đá, đá vôi, than bùn, quặng bauxit, cát trắng, vv.

Kinh tế nông nghiệp. Cây trồng chính: lúa, đay, cói, khoai lang, khoai tây, cây ăn quả (vải thiều là đặc sản của HD). Công nghiệp: cơ khí lắp ráp ô tô, chế tạo máy bơm nước, cơ khí sửa chữa, nhựa, sản xuất vật liệu xây dựng, sứ, dệt, may mặc. Giao thông: đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, quốc lộ 5, 18 chạy qua. Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy Xi măng Hoàng Thạch. Di tích lịch sử và thắng cảnh: đền Kiếp Bạc, chùa Côn Sơn, Phù Ủng, vv.

Tỉnh lập từ 1831. Nguyên là bộ Dương Truyền đời Hùng Vương. Thời thuộc Đường, có tên là Hồng Châu. Các triều Đinh - Lý, gọi là đạo Hồng Châu. Năm 1242, nhà Trần đổi làm Hồng Lộ, có lúc gọi là lộ Hải Đông, gồm các châu Nam Sách, Thượng Hồng, Hạ Hồng. Đầu thời Lê Sơ, gọi chung là Đông Đạo. Năm 1466, nhà Lê đặt làm thừa tuyên Nam Sách; đến 1469, đổi gọi là thừa tuyên Hải Dương, gồm 4 phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách và Kinh Môn. Năm 1742, nhà Lê - Trịnh gọi là trấn. Thời Nguyễn, năm Minh Mạng 12 (1831) đổi làm tỉnh HD gồm 5 phủ 19 huyện. Năm 1887, thực dân Pháp tách một số huyện ven biển của HD, đặt thành tỉnh Hải Phòng; đến 1906, đổi thành tỉnh Kiến An. Có tên Hải Hưng (1968 - 96) do hợp nhất tỉnh Hải Dương với Hưng Yên. Từ 6.11.1996, lại tách ra trở lại tên cũ.

Hải Dương


Chuyên ngành: Địa lí học
Địa lý